Latest Post
Hiển thị các bài đăng có nhãn XÃ HỘI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn XÃ HỘI. Hiển thị tất cả bài đăng

Cuộc chiến cho người bị bóc lột

Written By Trầm Hương Thơ on Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013 | 02:09


Hôm 17.12.2013 bà Devyani Khobragade, 39 tuổi, Phó Tổng Lãnh Sự của Ấn Độ tại New York đã bị bắt tại New York vì bị cáo buộc khai man để xin thị thực nhập cảnh cho một người mang quốc tịch Ấn Độ mà bà đưa tới Hoa Kỳ để giúp việc nhà. Bà cũng bị cáo buộc là trả cho phụ nữ này mức lương thấp hơn mức lương tối thiểu luật định. Một cuộc tranh luận đã xảy ra giữa Ấn Độ và Hoa Kỳ. Từ vụ án này, chúng ta có thể nhìn thấy rằng từ dân chủ tự do đến giải phóng con người còn một khoảng cách khá xa.

Trước hết, chúng tôi xin trình bày những nét chính của vụ án, sau đó sẽ nói về tình trạng người bóc lột người rất nghiêm trọng ở Ấn Độ và con đường giải thoát.

NHỮNG TRANH LUẬN VỀ VỤ ÁN

1.- Tranh luận về đặc quyền ngoại giao

Phát biểu trước Thượng viện Ấn Độ, Thượng nghị sĩ Arun Jaitley lãnh đạo phe đối lập cho rằng vụ bắt giữ này là một sự vi phạm Công Ước Vienna. Nhưng Washington chỉ rõ rằng với vai trò là Phó Tổng Lãnh Sự Ấn Độ tại New York, bà Khobragade không được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao toàn diện mà chỉ được hưởng quyền miễn trừ của lãnh sự khi thực thi nhiệm vụ lãnh sự mà thôi. Lời giải thích của chính phủ Hoa Kỳ rất chính xác. Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá phức tạp nên chúng tôi xin nói rõ thêm.

Bà Devyani Khobragade

Theo điều 14 của Công Ước Vienna ngày 18.4.1961 về Quan Hệ Ngoại Giao, chỉ ba loại viên chức ngoại giao sau đây được miễn toàn diện về tài phán: các đại sứ (ambassadors), các sứ thần (envoys) và các tham vụ ngoại giao (charges d'affaires - Hà Nội thường gọi là các đại biện). Điều 29 quy định: “Thân thể của viên chức ngoại giao là bất khả xâm phạm. Họ không thể bị bắt hoặc bị giam giữ dưới bất cứ hình thức nào”.

Các lãnh sự và nhân viên lãnh sự không được quyền đặc miễn toàn diện như các nhân viên ngoại giao nói trên. Điều 43 Công Ước Vienna ngày 24.4.1963 về Lãnh Sự chỉ cho các lãnh sự và nhân viên lãnh sự (consular officers and consular employees) được quyền đặc miễn tài phán “về các hành vi thực hiện khi thi hành chức năng lãnh sự” mà thôi.

Vì biết các viên chức lãnh sự không được đặc quyền tài phán ngoài nhiệm vụ lãnh sự, nên khi được tin bà Devyani Khobragade bị rắc rối trong vụ xử dụng người giúp việc, Bộ Ngoại Giao Ấn Độ đã điều chuyển bà sang phái đoàn thường trực của nước này tại Liên Hiệp Quốc để được hưởng quyền đặc miễn tài phán, nhưng cơ quan tư pháp Mỹ vẫn truy tố bà ta vì sự việc đã xảy ra trước khi có quyết định thuyên chuyển của Bộ Ngoại Giao Ấn.

2.- Tranh luận về bằng chứng tội phạm

Bà Khobragade giải thích rằng bà đã trả cho người giúp việc là Sangeeta Richard 9,75 USD/giờ, tương đương mức lương tối thiểu theo luật pháp Mỹ, nhưng Richard chỉ nhận một phần ở Mỹ, phần còn lại được trả cho thân nhân của đương sự ở Ấn Độ. Nhưng Richard đã phủ nhận điều này và bà Khobragade không xuất trình được bằng chứng nào để hỗ trợ cho lời khai của bà.

Theo bà Biện Lý Bharara, bà Khobragade đã vi phạm luật pháp Mỹ vốn quy định rất rõ ràng việc cấm các nhân viên ngoại giao và lãnh sự bóc lột lao động nhập cư. Bà Khobragade đã không trả đúng khoản tiền lương tối thiểu theo quy định của Mỹ là 9,75USD/giờ cho Richard như đã khai trong đơn xin thị thực, mà bí mật dàn xếp để chỉ phải trả cho người giúp việc này có 1/3 khoản lương quy định trên. Nếu bị xác định có tội, bà Khobragade có thể phải chịu mức án tối đa là 10 năm tù vì gian lận thị thực và 5 năm tù vì khai báo gian dối.

Thật ra, đây không phải là viên chức ngoại giao đầu tiên của Ấn vi phạm tội bóc lột lao động. Năm ngoái, một viên chức lãnh sự Ấn Độ là Neena Malhotra và vợ của ông ta ở Lãnh Sự quán New York đã bị phạt gần 1,5 triệu USD vì đã xử dụng cô Shanti Gurung như là nô lệ lao động. Từ 2008 đến 2012, chính phủ Hoa Kỳ đã cấp 5.330 chiếu khán (visa) loại A-3 cho những người giúp việc của các nhân viên ngoại giao ngoại quốc ở Hoa Kỳ. Nhiều nhà ngoại giao đã lợi dụng loại chiếu khán này để đưa những người từ nước họ đến làm nô lệ lao động cho họ.

PHÁT XUẤT TỪ VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO

Báo cáo của Quỹ Walk Free công bố hôm 16.10.2013 cho biết trên thế giới vẫn còn có gần 30 triệu người đang bị đối xử như nô lệ, gồm cả người lớn và trẻ em. Những nạn nhân này bị biến thành nô lệ tình dục hoặc nô lệ lao động không có kỹ năng. Trong 10 nước đứng đầu chiếm đến hơn 3/4 trong tổng số nô lệ thì Ấn Độ đứng hàng đầu với đến 14 triệu lao động nô lệ, Trung Quốc đứng thứ 2 với gần 3 triệu. Nga và Thái Lan cũng có tên trong 10 quốc gia đó.

Lao động nô lệ ở Ấn Độ Hoạt động bóc lột lao động trẻ em đã và đang diễn ra dai dẳng ở Ấn Độ. Trong bộ phim tài liệu mang tên “Stolen Childhoods” (Tuổi thơ bị đánh cắp), đạo diễn kiêm nhà quay phim Robin Romano mô tả thảm cảnh hết sức bi thương của các em nhỏ ở Ấn Độ. Các lò nung gạch và khu khai thác đá là những cảnh thường thấy tại Tây Bengal, Orissa và những bang vùng biên của Ấn Độ. Những em nhỏ làm việc ở đây bị bóc lột từ 12-16 giờ một ngày, bảy ngày một tuần, 365 ngày một năm. Cảnh sát liên bang ở Ấn Độ ước lượng tại Ấn Độ hiện có khoảng 1,2 triệu trẻ em đang bị ép làm việc trong hoạt động mại dâm.

Tại Ấn Độ hiện nay có 4 tôn giáo lớn là Ấn giáo chiếm 80,5%, Hồi giáo 13,4%, Kitô giáo 2,3%, đạo Sikh 1,84% và Phật giáo 0.76%. Lao động nô lệ phát xuất từ sự phân chia đảng cấp trong Ấn giáo. Truyền thừa từ Bà La Môn, Ấn giáo phân chia xã hội Ấn làm 5 đẳng cấp. Theo Ấn giáo, các đẳng cấp này do Nghiệp (Karma) tạo ra. Ai sanh ra trong đảng cấp nào thì phải ở mãi trong đảng cấp đó suốt đời. Chỉ có thể chuyển kiếp sau khi chết. Đẳng cấp thứ 5 là đảng cấp thấp kém nhất trong xã hội, gồm các người làm các nghề hèn hạ như ở đợ, làm mướn, chèo ghe, giết súc vật, v.v…Có khoảng 160 triệu người trong xã hội Ấn Đô bị coi là thuộc đảng cấp tiện dân (Dalit), bị gán cho là ô uế ngay từ khi lọt lòng mẹ và phải sống kiếp đời nô lệ.

Mặc dầu chế độ đẳng cấp đã bị Hiến Pháp Ấn Độ hủy bỏ, nhưng trong thực tế nó vẩn còn được duy trì để phục vụ cho giai cấp thống trị.

CUỘC CHIẾN CHO NGƯỜI BỊ BÓC LỘT

Đạo Công Giáo đã được truyền vào Ấn Độ từ năm 1510, hiện đã có 19,9 triệu tín hữu với 166 giáo phận trong 30 tỉnh. Nếu tính chung thì tổng số Kitô hữu hiện nay ở Ấn Độ là 24 triệu. Mặc dầu Hiến Pháp Ấn Độ công nhận quyền tự do tôn giáo, nhưng hoạt động tôn giáo và xã hội ở đất nước này không phải là chuyện dễ dàng. Để tranh ghế với Đảng Quốc Đại, Đảng Nhân Dân (Bharatiya Janata Party - BJP), một trong 2 đảng lớn nhất trong số 449 đảng của Ấn Độ, luôn chủ trương chống lại các tôn giáo khác với Ấn giáo và biến Ấn Độ thành một lò lửa của căng thẳng về tôn giáo.

Linh mục Anto Kudukkamthadam là cha sở giáo xứ Piploda thuộc bang Madhya Pradesh ở trung Ấn cho biết trong làng ông đang cai quản chỉ có từ 5 - 7% là người giàu có, 10% là giới trung lưu, còn 80% là người nghèo. Do đó, tình trạng bóc lột thường xảy ra. Thế nhưng, vị linh mục hay tu sĩ nào dám công khai lên tiếng tố cáo những bất công thì tính mạng bị lâm nguy. Nữ tu Rani Maria bị ám sát cách dã man chỉ vì Soeur hoạt động xã hội, khuyến khích các bà các cô biết tự tổ chức, phân định các hoàn cảnh và làm việc chung với nhau. Hoạt động của Soeur đã mang lại nhiều kết quả tốt đẹp. Nhưng những kết quả này lại gây khó chịu cho giới giàu có trong làng và họ đã thuê người giết Soeur.

Linh mục Anto cho biết thời gian đầu mọi việc vô cùng khó khăn. Có một ngày, ông tưởng như giờ cuối cùng đã điểm. Một nhóm thanh niên thuộc phong trào chính trị Ấn giáo đến giáo xứ gặp ông và chất vấn ông đủ điều:

- Ông là ai mà dám ở đây? Ông đến đây để làm gì? Ông không phải dân địa phương, như thế có nghĩa ông nhận tiền viện trợ của Anh hoặc của Mỹ để làm những công việc này?

Sau khi giải thích mọi việc đang làm cho họ nghe, Linh mục Anto đã kết thúc:

- Các anh có thể giết tôi, tôi sẵn sàng chết vì Đức Giêsu Kitô!

Tự nhiên họ dịu lại. Một thời gian sau, khi họ thấy giáo xứ thật sự giúp đỡ dân làng, đặc biệt là mở các lớp học bình dân, chính những người từng dọa giết linh mục lại gởi con cái họ đến học trường của giáo xứ!

Theo bản tường trình của cơ quan từ thiện Misereor, chỉ trong một tuần lễ, các cuộc tấn công người Kitô hữu của các nhóm quá khích đã làm cho khoảng 15.000 Kitô hữu phải bỏ lại nhà cửa để chạy thoát thân, 1.500 ngôi nhà bị đốt phá hoàn toàn, 50 nhà thờ bị phá hủy hay chiếm giữ.

Mặc dù gặp sự chống đối mãnh liệt, Giáo Hội tại bang Arunachal Pradesh, miền đông bắc Ấn Độ, đã luôn đón nhận nhiều tân tòng trong 3 thập niên vừa qua, mỗi năm có đến 10 ngàn người. Ngày nay số Kitô hữu đã chiếm đến 40% dân số trong bang. Đức Giám Mục George Palliparampil nói rằng sở dĩ họ tìm đến với Giáo Hội vì ở đây có những người giúp đỡ, bênh vực và yêu thương họ.

Qua vụ án Devyani Khobragade, chúng ta thấy chế độ lao động nô lệ không những chỉ tồn tại ở Ấn Độ mà còn được đẳng cấp thống trị xuất cảng qua Hoa Kỳ!

Lữ Giang
Ngày 26.12.2013

LM Nguyễn văn Khải và những điều chưa biết

Written By Trầm Hương Thơ on Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013 | 06:40



Sau khi nghe LM Nguyễn văn Khải nói chuyện thì mọi người đều phải công nhận rằng Cha Khải, một người trẻ nhưng ăn nói thật lưu loát, một người rất thông minh, điềm tĩnh, tự tin, gan dạ, lanh lẹ trong việc ứng phó với mọi vấn đề, mọi tình huống xảy ra. Thêm vào đó, tính tình thật thà, khiêm tốn cùng với lối ăn nói bình dị, dí dỏm của Cha đã là những yếu tố làm say mê, thu hút người nghe.
Nhưng những lúc gặp gở riêng Cha như người thân trong gia đình thì mới thấy rằng Cha không chỉ ăn nói dí dỏm mà quả là một người vui tính, tiếu lâm vô cùng. Vây quanh Cha, người thì che miệng, người thì ôm bụng cười bò lăn ra, cười chảy nước mắt, còn Cha thì cứ thao thao kể hết chuyện này đến chuyện khác mà toàn là những chuyện khôi hài, những chuyện khó tin nhưng có thật. Tiếu lâm nhất là sau khi đọc xong lời cầu nguyện trước mỗi bữa ăn có đông các thân hữu, Cha hay thường nói “dzỗ tay”! Có lẽ chính cái tính khôi hài này đã phần nào giúp Cha vượt qua được mọi thử thách, mọi khó khăn, gian khổ, hiểm nguy trong cuộc sống.
Người kể chuyện và người nghe chuyện cả hai đều say mê, trong bao câu chuyện kể, thì Cha đã kể một chuyện về mình như sau – có một lần Cha bị bệnh nặng, bất tỉnh được đưa vào bệnh viện cấp cứu, lúc bấy giờ Cha vừa học xong trung học, đang dự tu tại Thái Hà, lúc tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm ở khoa nhi. Cha mới đem điều này than phiền với bác sĩ và được bác sĩ cho biết là Cha được đưa vào bệnh viện không có một mảnh giấy tuỳ thân – không tên, không tuổi, không địa chỉ – mà Cha chỉ cân nặng 33 kí, vậy là Cha được xếp vào loại bệnh nhân trẻ em và được đưa vào khoa nhi.
 
Nói đến cuộc sống gian khổ thì Cha cho biết rằng lúc đã học đến lớp 11 (tại trường huyện Yên Khánh) Cha vẫn còn phải đi chân đất (đi chân không, không có giày dép) và Cha chỉ có độc nhất một cái quần tây bằng vải thô. Vào những ngày mùa đông giá rét, mỗi học sinh nghèo vừa vừa đều mang theo một cái ống lon trong đó đốt cháy những trái thông, cầm trong tay hoặc đặt gần chân để sưởi ấm. Còn những học sinh nghèo rớt mòng tơi không có ống lon thì phải dùng rơm hay cỏ khô bện lại hay quấn lại cho thật chặt như một khúc giây thừng rồi đốt một đầu cho cháy ngún, cầm theo, vừa đi vừa thổi vào chổ cháy cho lửa khỏi tắt để sưởi âm.
Dùng rơm hay cỏ khô bện lại hay quấn lại cho thật chặt như một khúc giây thừng rồi đốt một đầu cho cháy ngún (hình minh hoạ)
Sau này khi Cha có dịp đọc được các câu chuyện khốn khổ, nghiệt ngã về đời tù “cải tạo” của các quân, dân, cán, chính VNCH thì Cha cho biết lúc bấy giờ người dân Miền Bắc ở bên ngoài cũng không hơn gì, có khi còn thua tù “cải tạo” vì họ còn được thân nhân thăm nuôi, bới xách, trong khi đó, từ năm 1975 cho đến những năm 1988, 1989 (thời kỳ “bao cấp”), thì dân Miền Bắc đói mờ con mắt, đói triền miên, mỗi năm may lắm chỉ được ăn 2, 3 lần cơm, một vài miếng thịt bằng lóng tay!
 
Cha còn nói thêm rằng, sau khi CSVN chiếm Miền Nam, lúc mà hàng triệu người dân Miền Nam tìm đủ mọi cách để trốn chạy khỏi cái địa ngục CS thì đối với người dân Miền Bắc những nơi bị coi là tận cùng địa ngục ở Miền Nam lại là thiên đàng của người dân Miền Bắc. Lúc bấy giờ dầu bị CSVN ngăn cấm, họ vẫn tranh nhau, tìm cách đi “chui” vào Miền Nam để sinh sống.
 
Cha không những có một cuộc sống đơn sơ, bình dị, tính tình khiêm tốn mà còn rất nhẫn nhục – mặc dầu đã là một linh mục nhưng có những lúc Cha vẫn phải ra giữ xe và bị khách chửi mắng thường xuyên nhưng Cha vẫn vui vẻ chu toàn việc làm của mình.
 
Trãi qua những tháng năm dài khốn khó, khổ cực, … khi chưa phải là một vị linh mục thì Cha đã tỏ ra là một con người có ý chí, dấn thân vào con đường tu tập, quyết tâm đem đạo vào đời để phục vụ, để đem niềm vui đến cho con người và với tinh thần học hỏi, cầu tiến Cha đã được sắp xếp cho đi tu học tại Roma. Sự có mặt của Cha Khải ở hải ngoại là một cơ duyên đưa Cha đi, đem Cha đến với cộng đồng Người Việt tỵ nạn với sứ mạng làm bùng lên ngọn lữa đấu tranh cho Việt Nam.
 
Melbourne
09/08/2013
Ghi chú: “Những điều chưa biết” nêu ra dưới đây, đối với một số người có thể là những điều đã biết rồi.

Sửa đổi Hiến pháp theo kịch bản đã dàn dựng? Thanh Quang, phóng viên RFA

Written By Trầm Hương Thơ on Thứ Tư, 13 tháng 3, 2013 | 03:03


Giáo dân giáo xứ Ngọc Long, giáo phận Vinh, ký kiến nghị đòi hủy điều 4 hiến pháp 1992.

Sau khi người dân Việt trong và cả ngoài nước ngày càng dồn dập góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 theo lời kêu gọi của nhà nước, nổi bật nhất là Kiến nghị 72, Thư của Hội đồng Giám mục VN, Tuyên bố của Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ, Đức Đệ Ngũ Tăng Thống GHPGVN Thống Nhất, Tuyên bố của Công dân Tự do, “Tuyên ngôn Nguyễn Đắc Kiên”, thì hiện phía cầm quyền huy động toàn lực từ phương tiện truyền thông, nhân vật có tiếng, sinh viên, cựu chiến binh, cán bộ về hưu, tổ dân phố, quần chúng tự phát, dư luận viên, xã hội viên… để cáo buộc, chụp mũ, răn đe những người mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cáo giác là “những kẻ suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức, cần phải xử lý”.

“Ngây ngô” đến “phát ngượng”

Qua bài “Vì sao TBT Nguyễn Phú Trọng phải lên tiếng răn đe trong việc sửa Hiến pháp?”, blogger Kami lưu ý tới hiện tượng “lên đồng tập thể” chưa từng có của đủ phần tử bảo vệ vị thế độc quyền lãnh đạo vĩnh viễn của đảng vốn ráo riết xuất hiện trên phương tiện truyền thông nhà nước trong mấy ngày nay.

Ông Huỳnh Kim Báu, Chủ tịch Hội Trí thức TPHCM phản ứng:
Bày ra trò lấy ý kiến sửa đổi làm gì cho tốn thời gian, tốn công sức, giờ phản bác phân bua điếc cả tai trên ti vi. 
Blogger Người Buôn Gió

“Chuyện công lao quá khứ với hiện tại là hai phạm trù khác nhau. Anh có thể có công với quá khứ nhưng bây giờ có tội với tương lai. Không thể xét đoán công với tội mà cả dân tộc này chịu sự cai trị của Đảng suốt đời như vậy. Trong khi đó dân tộc, đất nước có trước Đảng. Trước khi là một Đảng viên thì là người Việt Nam đã, cái đó là điều hiển nhiên cho nên không thể lấy lập luận đó để bảo vệ đảng.”

Blogger Kami bày tỏ ngạc nhiên khi thấy “cuộc hầu đồng tập thể” trong mấy tuần nay trên phương tiện truyền thông nhà nước với đầy đủ “ban bệ và các nhân vật quan trọng” góp phần vào “toan tính kỹ lưỡng” nhằm đe doạ người dân góp ý không đúng với ý đảng, đó là chưa kể những bài viết với lập luận “ngây ngô” khiến độc giả “phát ngượng”, vừa “bực mình, vừa buồn cười lại vừa có chút thương hại”. Theo blogger Kami thì “Trong bối cảnh sự tín nhiệm của nhân dân đối với đảng CSVN đã xuống tới mức thấp nhất trong lịch sử 83 năm hoạt động và 68 năm ở vai trò đảng cầm quyền thì những hành động đáp trả mang tính cố thủ như trên là những dấu hiệu đáng lo ngại” cho đảng; và phản ứng “lạ lùng” của đảng và nhà nước như vậy chẳng khác nào “khư khư như ông từ giữ oản”. Do đó, theo nhận xét của Kami, việc đảng, nhà nước, và cả những thành phần “lên đồng tập thể” vừa nói, ra sức tung hô Điều 4 cho sự lãnh đạo độc tôn và vĩnh viễn của đảng, không chấp nhận “tam quyền phân lập”, duy trì sở hữu toàn dân về đất đai, quân đội và công an phải trung thành với đảng… Tất cả đều không ngoài mục đích “Giữ chùa, thờ Phật thì được ăn oản”.

Blogger Quê Choa qua bài 
“Hướng dẫn dư luận viên trả lời Kiến nghị 72” cũng đồng ý với blogger Kami, cho rằng “bảo vệ Đảng như rứa càng làm mất uý tín Đảng, càng làm cho người ta thấy Đảng đang đuối lý và quanh co”. Rồi blogger Quê Choa, tức nhà văn Nguyễn Quang Lập, nêu lên câu hỏi và tự trả lời:

“Vì sao không tam quyền phân lập?- Vì giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản!

Vì sao đất đai phải sở hữu toàn dân?- Vì giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản!

Vì sao quân đội phải trung thành với Đảng?- Vì giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản!

Vì sao không được bỏ điều 4?- Vì giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản!”


Kêu gọi nhân dân góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp trên Đài truyền hình VTV. Screen capture.



Vẫn theo Quê Choa thì cả 7 kiến nghị trong Kiến Nghị 72, cả những câu hỏi cụ thể như vì sao Bản Giốc, vì sao Hoàng Sa, vì sao Bauxite, vì sao Vinashin, vì sao Vinalines…vân vân và vân.. , các dư luận viên vẫn cứ kiên quyết trả lời đanh thép: Vì giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản! Cứ trả lời như thế nhất định “bọn suy thoái” sẽ phải câm miệng.

Qua bài “Đúng hết thì còn lấy ý kiến gì?”, blogger Người Buôn Gió nêu lên câu hỏi rằng “Lấy ý kiến mà kiểu vừa đang lấy vừa đe thế, hỏi có khách quan không?”. Tác giả thắc mắc:

“Có ai đòi sửa đổi hiến pháp đâu, hiến pháp vẫn đang thế, chính trị đang thế, xã hội vẫn thế, quân đội vẫn thế và nhân dân vẫn thế. Bày ra trò lấy ý kiến sửa đổi làm gì cho tốn thời gian, tốn công sức, giờ phản bác phân bua điếc cả tai trên ti vi. Tự dưng ông bày ra thì người ta có ý kiến, bao giờ thống nhất thời hạn các ý kiến xong thì tập hợp công bố, sau đó mới phân trần, giải thích. Đằng này ý kiến còn đang lấy mà các ông đã lợi dụng truyền thông để đe dọa là đóng góp phải thế này, không được thế kia, như thế kia là phạm tội chống phá chính quyền.”

Blogger Người Buôn Gió nhân tiện lưu ý tới phương tiện truyền thông nhà nước rằng “cái nơi tồn tại bằng tiền dân” thì bây giờ đem phục vụ cho mục đích của đảng cầm quyền. Thời lượng phát sóng để phục vụ người dân qua tin tức liên quan chuyện làm ăn, y tế, giáo dục… bỗng nhiên, hơn 2 tuần nay, chỉ lo phục vụ cho chuyện hiến pháp nhằm bảo vệ vai trò cầm quyền của đảng. Blogger Người Buôn Gió kết luận:

“Thôi, đã cầm quyền, và đã thấy đúng hết thì chấm dứt luôn cái trò lấy ý kiến. Tuyên bố chấm dứt việc lấy ý kiến ở đây và huỷ bỏ những ý kiến đóng góp trước đó, lý do vì giai cấp cầm quyền đã thấy đúng hết rồi không phải đóng góp là gì nữa cho mất thời gian tiền bạc, công sức. Nếu ai thắc mắc việc không lấy ý kiến thì cứ trả lời đơn giản:

Đúng hết thì còn lấy ý kiến làm gì?”
Một trò bịp?
Những ai tin rằng việc góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 sẽ được đảng - nhà nước CSVN nghiêm túc tiếp thu thì có lúc sẽ đau tim mà chết. 
Nguyễn Bắc Truyển

Qua bài “Về việc góp ý xây dựng Hiến pháp mới”, blogger Bùi Tín lưu ý rằng thực ra đảng nhân dịp này chỉ để củng cố vai trò lãnh đạo độc tôn, duy nhất, mang tính độc quyền của đảng Cộng sản khi uy tín của đảng đã xuống thấp nhất, khi lãnh đạo của đảng bị đông đảo nhân dân đánh giá “không có tâm, không ngang tầm, hư hỏng”, bị “lòng tham không đáy” khiến đà suy thoái vượt ra ngoài vòng kiểm soát, khi dân chúng, kể cả đảng viên, đang vô cùng thất vọng, tuyệt vọng.

Nhưng khi kịp nhớ lại bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 mà phía cầm quyền đưa ra và kêu gọi người dân góp ý thì nhà báo Bùi Tín cho đó là “trò bịp của lãnh đạo” đã “phơi bày rất rõ”, khi họ giật dây cho Ban dự thảo của Quốc Hội sửa chữa, bổ sung toàn là những tiểu tiết, thứ yếu trong bản Hiến pháp 1992, chứ không đả động gì đến những điều chủ chốt mà người dân mong muốn đổi thay, từ Điều 4, các vấn đề về sở đất đai, về chuyện tam quyền phân lập cho tới việc chỉ đi theo con đường chủ nghĩa xã hội. Tệ hại hơn nữa,blogger Bùi Tín lưu ý, họ lại thêm 2 điểm trong dự thảo Hiến pháp lần này vốn không hề có trong tất cả 4 Hiến pháp trước đó, đó là các lực lượng vũ trang nhân dân (gồm quân đội và công an) trước tiên phải trung thành với đảng rồi mới tới tổ quốc và nhân dân; và có trách nhiệm bảo vệ đảng và nhà nước trước, rồi mới tới nhân dân sau. Nhà báo Bùi Tín nhận xét:

“Đây là thay đổi cốt lõi nhất, khi Bộ Chính trị nhận ra tình hình lâm nguy của đảng, đảng bị dân ghét và khinh, bị không ít tướng lĩnh, sỹ quan chiến sỹ và cựu chiến binh phê phán rất nghiêm khắc, lại thấy trong Mùa Xuân Bắc Phi, quân đội Tunisia, Ai Cập đã dứt khoát ngả hẳn về phía nhân dân, cùng nhân dân lật đổ chính quyền độc tài tham nhũng. Bộ Chính trị ở Hà Nội đã giật mình hoảng sợ, liền dùng việc sửa Hiến pháp để buộc chặt các lực lượng vũ trang vào cỗ xe có thể sắp lâm nguy của mình.”

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý, Trưởng Ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tại buổi họp báo việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Photo courtesy of vtc.

Qua bài “Đảng CSVN có nên tiếp tục lãnh đạo không?”, cựu tù nhân chính trị Nguyễn Bắc Truyển khẳng định rằng đảng không nên kêu gọi quân đội bảo vệ đảng, điều đó là “vô vọng”.

Tại sao? Vì, theo tác giả, “Người lính chỉ bảo vệ đất nước, quyền lợi của họ nằm trong quyền lợi của người dân. Hãy nhìn sang Ai-Cập, Lybia... để thấy cái kết cục của những kẻ đã từng được các tướng lĩnh quân đội ủng hộ. Còn người lính rời bỏ quân ngũ họ trở thành dân đen, không có lý do gì họ chống lại đồng bào và người thân của mình. Nhân dân Việt Nam sẳn sàng chết cho đất nước nhưng sẽ không chết thay cho bất kỳ một đảng phái chính trị nào. Xin nhớ lấy điều đó để mà răn mình”.

Sau khi đưa ra “một lời khuyên” rằng “đừng nên nói láo” trong thời đại thông tin “đi nhanh như ánh sáng” giữa lúc người dân “chưa bao giờ tín nhiệm đảng CSVN” trong vai trò lãnh đạo đất nước dù trước đây họ đành phải cúi đầu vì sợ hãi trước cái đói, nhà tù, cái chết thì nay họ đang lên tiếng, đang “tính sổ” với giới cầm quyền, luật sư Nguyễn Bắc Truyển kết luận rằng:

“Những ai tin rằng việc góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 sẽ được đảng - nhà nước CSVN nghiêm túc tiếp thu thì có lúc sẽ đau tim mà chết. Việc kêu gọi nhân dân lấy ý kiến là trò chơi chính trị, một hình thức mị dân không hơn không kém. Sẽ không có bất kỳ sự thay đổi dù đó là nguyện vọng đa số người dân: điều 4 được giữ nguyên, không có sở hữu tư nhân đất đai, quyền con người bị xuyên tạc, không có việc trưng cầu dân ý Hiến pháp... Các sửa đổi chỉ mang lại các lợi thế cho đảng CSVN tiếp tục độc quyền cai trị. Từ đây cho đến khi có bản Hiến pháp mới, nhiều màn hài kịch sẽ được show up để hợp thức hóa với dư luận quốc tế (họ chẳng quan tâm người dân trong nước). Không ai ngạc nhiên khi Quốc hội CSVN sẽ thông qua Hiến pháp mới với 100% phiếu tán thành, tất cả đã được dàn dựng.”

Xin cảm ơn quý vị vừa theo dõi Tạp chí Điểm Blog hôm nay. Thanh Quang kính chúc quý vị mọi điều an lành.

Con đường ngắn lại bởi mỗi bước chân đi

Freedom is not free. Con đường đi đến Tự Do của mỗi người và của cả một dân tộc không bao giờ là một con đường bằng phẳng.


Trên con đường Tự Do hôm nay tuy không có hố mìn, đạn bom của thời chiến nhưng nhưng lại chứa đầy những mối nguy hiểm được đánh dấu bằng những con số như 79, 88, 258… của Bộ luật Hình sự. Con đường đó, ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN này, đôi khi lại là con đường ngắn nhất dẫn đến cửa ngục tù. Thế nhưng vẫn có những con người tiên phong chọn cách đi về phía trước và phất cao ngọn cờ Tự Do. Đó chính là những người khởi xướng lên Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do. Bước chân của họ đang góp phần làm ngắn lại con đường dẫn đến bến bờ Tự Do. Họ đang lót đường cho thành quả sau cùng của tương lai. 

Nguyễn Hoàng Vi, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh… Trong đoàn người ấy, khởi bước chân đi là những cô gái nhỏ bé dáng người nhưng đầy lòng quả cảm. 

Ở đó là những khuôn mặt thân quen của các bloggers trẻ tuổi. Gió Lang Thang, người bạn trẻ vừa mới đi tặng quà tết cho dân oan bị đánh, bị bắt đem về đồn công an. Hành Nhân, Huỳnh Công Thuận, Huỳnh Ngọc Chênh, Trịnh Kim Tiến, Nguyễn Hồ Nhật Thành, Uyên Vũ, Châu Văn Thi, Binh Nhì, Nguyễn Chí Tuyến, Nguyễn Lân Thắng, Lê Thiện Nhân, Lê Dũng, Aduku Nguyễn Văn Dũng, Bùi Thị Minh Hằng, Trầm Tử Lê Khánh Duy, Huỳnh Thục Vy, Huỳnh Ngọc Tuấn… Những người miệng nói, tay viết, chân đi trong mọi nỗ lực tranh đấu cho sự toàn vẹn lãnh thổ và biển đảo, cho công lý và quyền lợi của dân oan, cho tự do ngôn luận, cho công bằng xã hội. Họ đã dõng dạc cất tiếng xác định tư thế của những Công Dân Tự Do. 

Trên con đường ấy, đồng hành với những người em, người cháu, sánh bước cùng thế hệ trẻ là những bậc đàn anh suốt đời luôn nặng nợ với núi sông như Ts Hà Sĩ Phu, nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh, Bs Nguyễn Đan Quế, Ns Tô Hải, bác Trần Khuê… 

Ở trong đoàn người ấy có bóng dáng của những nhà thơ Bùi Chát, Bùi Minh Quốc, Đỗ Trung Quân, Phan Đắc Lũ, Phan Bá Thọ, Trần Đức Thạch, Chiêu Anh Nguyễn… 

Cũng có những chiếc áo dòng tu sánh bước của Lm Phê-rô Nguyễn Hữu Giải, Lm Phê-rô Phan Văn Lợi, Lm Giuse Nguyễn Hữu Thoại, Lm Giuse Hoàng Minh Giám, Lm Paul Lê Xuân Lộc, Lm Phaolô Nguyễn Quốc Hưng, Lm An-Phong Nguyễn Công Minh, Ms Nguyễn Trung Tôn… 

Và ở đó cũng có những đảng viên dứt khoát từ bỏ con đường của đảng độc tài – đã lâu như anh em Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn, Ts Đỗ Xuân Thọ, hoặc mới đây như Nguyễn Chí Đức. 

Và những người cựu tù của chế độ, bỏ lại sau lưng ám ảnh của lao tù để tiếp tục con đường khai mở cho Tự Do: Lê Thăng Long, Nguyễn Bắc Truyển, Trần Văn Đức, Phạm Minh Hoàng, Phạm Văn Trội… 

Và những tên gọi quen thuộc của Ts Nguyễn Quang A, nhà giáo Phạm Toàn, Ts. Nguyễn Thanh Giang, cựu chiến binh Nguyễn Anh Dũng, nghệ sỹ Tạ Trí Hải, nhà báo Võ Văn Tạo, nhà báo blogger Osin Huy Đức, nhà báo blogger Phạm Thành – Bà Đầm Xòe, nhà báo Lưu Trọng Văn, bác sĩ Lê Đình Phương, bác sĩ Thạch Nguyễn, và các thành viên của 8406 – Đỗ Nam Hải, Lư Thị Thu Trang… 

Và ở con số 1001 – một tên tuổi đã làm nên tất cả: Nguyễn Đắc Kiên. 

Tất cả, từ các nẻo đường khác nhau của đất nước, xuất phát từ những hoàn cảnh, những cuộc sống, những mảnh đời khác nhau, đã cùng đồng hành, công khai tên tuổi lên tiếng xác định tư cách, quan điểm của những Công Dân Tự Do. 

Họ là những khuôn mặt của Tự Do. 

Nếu định nghĩa lãnh đạo là những con người dẫn đường, là những nhân tố tiên phong thì đây – chúng ta không cần phải canh trường thắp nến đi tìm đâu xa. Chính là họ. Khởi đi từ những thanh niên thiếu nữ ban đầu, danh sách / đoàn người đã được nhập dòng bởi con số ngàn. Ngày hôm nay thì như thế, khiêm tốn và còn rất nhiều nỗ lực để có thêm những Công Dân Tự Do để dẫn đến một Đất Nước Tự Do. Nhưng chắc chắn rằng trong số họ sẽ là những người phất cao ngọn cờ Tự Do ở quãng trường Ba Đình vào ngày mai, theo sau là hàng trăm ngàn, cả triệu người dân Việt Nam reo mừng chiến thắng: Thoát Vòng Nô Lệ. 

Ngày đó, chiến thắng đó sẽ không bao giờ đến nếu không có ngày hôm nay. 

Con đường vẫn còn dài nhưng bước chân của các anh chị em cùng với các thế hệ đàn anh hôm nay đã rút ngắn con đường mai sau. Ẩn kín sâu trong nội dung của Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do, xin hãy cùng nhau lắng nghe thông điệp của họ: 

- Đừng sợ hãi. Chúng tôi cũng như các bạn. 

- Hãy cùng nhập vào đoàn người của chúng tôi để đánh thức 

hào khí vốn rất kiên cường của dân tộc này. 

- Tự Do không thể đạt được bởi những con người mang tâm thức nô lệ. 

- Hãy tự mình sống và hành động như một người Tự Do 

thì mới có thể tranh đấu cho Tự Do của cả một dân tộc. 

Họ đã đứng lên. Tự Do đã lên tiếng gọi. Freedom called. Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do là bước khởi đầu. Và tự nó đã là một chiến thắng. Mỗi bước chân đi tới là một chiến thắng chung của dân tộc trong cuộc cách mạng của sợ hãi này.

Vũ Đông Hà

Dân Việt Lưỡng Đầu Thọ Địch


Nhà cầm quyền độc tài đảng trị toàn diện CS Hà nội thay vì làm nhiệm vụ một chánh quyền phải làm- là bảo quốc an dân theo khế ước xã hội thành lập chánh qưyền. Trái lại nhà cầm quyền CS Hà nội lại đã đưa nhân dân Việt Nam vào thế thậm chí nguy. Nhân dân VN đang bị nội công ngoại kích.Nhân dân VN phải lưỡng đầu thọ địch. Người dân VN tay không, chỉ có tấm lòng yêu nước, mà phải đương đầu với hai mặt giáp công, của CS Hà Nội và của CS Bắc Kinh.

Người dân Việt bị nội công. Đối nội người dân Việt phải đấu tranh với nhà cầm quyền CS Hà nội. CS Hà nội hành động và ứng xử với người dân Việt – đồng bào mình — như một thứ tự thực dân (auto- colonialist), một phường quan lại mặt mũi Việt Nam nhưng lòng dạ độc địa còn hơn quân Tàu, quân Pháp thực dân. Vi quyền lợi riêng tư của cá nhân và của Đảng CS, cán bộ đảng viên CS cầm quyền VN coi mình còn thua thái thú, thần phục CS Bắc Kinh hơn Thiên Triều, áp bức bóc lột, hà khắc, tham nhũng đối với người dân VN còn hơn quân Tàu thời Bắc Thuộc.

Chỉ có bọn thực dân ngoại nhập, quân Tàu, Pháp, kẻ thù của người dân Việt mới cấm đoán, trấn áp người dân bày tỏ lòng yêu nước. Trong lịch sử VN, suốt cả chục thời kỳ độc lập, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, chưa có vị vua nào để mất đất mà không rút gươm chống lại quân Tàu, không cho người dân bày tỏ lòng yêu nước Việt.

Trừ thời CS Hà nội, trong vụ TC chiếm biển và đảo của VN. Ngay thời đất nước bị chia đôi, Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam trong thời kỳ Mỹ rút quân, thân cô thế cô, TC đánh chiếm Hoàng sa, quân đội VNCH cũng quyết tử với TC. Hải quân VNCH thà làm tử sĩ muôn đời gác giặc, giữ đảo và biển, chớ không nhường một tấc đất của đất nước ông bà VN để lại, cho quân thù Tàu Cộng.

Khác với Thủ Tương Phạm văn Đồng của CS Hà nội ký công hàm gởi Chu ân Lai gián tiếp dâng biển, đảo cho quân Tàu. Bên kia thế giới ông Phạm văn Đồng thủ tướng lâu đời nhứt của CS Hà nội chắc phải gụt mặt, hỗ thẹn không dám ngó đoàn quân binh VN, Miền Nam lẫn Miển Bắc đã tử chiến với quân Tàu để giữ đảo, biển ngoài Biển Đông và các tỉnh biên giới Bắc Việt Nam.

Còn hiện thời CS Hà nội quá nhu nhược và bất động như thông đồng với quân Tàu Cộng. TC ngang nhiên và ngang ngược lấy hai đảo Hoàng sa và Trường sa làm huyện Tam Sa sáp nhập vào đất nước Tàu, đơn phương đưa ra một bàn đồ hình lưỡi bò chiếm 80% vùng biển của VN, ba năm liền ra lịnh cấm ngư dân VN đánh cá trên ngư trường ngàn đời của VN, bắt, bắn, cuớp tàu, đòi tiền chuộc, TC cũng cắt cáp thăm dò hai tàu thăm dò của nhà nước VN, có những lời lẻ công khai mạ lỵ, xúc phạm VN, như thời Bắc thuộc, quân Tàu gọi ngưởi Việt là “ô nàm nán” (người an nam xấu). Mà nhà cầm quyền CS Hà nội chỉ phản đối suông, chiếu lệ thôi. CS Hà nội sợ CS Bắc Kinh đến đổi CS Bắc Kinh cũng phải ngạc nhiên trước hành động CS Hà nội cấm đoán, đàn áp người dân bày tỏ lóng yêu nước.

Người dân Việt bị ngoại kích. Đối ngoại, trước sự xâm chiếm ngang ngược của TC, cũng với tay không mà người dân Việt phải đem nhân tài vật lực ít oi để giữ gìn bờ cõi. Như người ngư phủ Việt quyết bám biển,bám đảo do dất nước ông bà VN từ ngàn đời để lại. Ngư dân VN anh hùng đã hy sinh máu, nước mắt mồ hôi, tài sản để chứng tỏ Hoàng sa, Trường sa, Biển Đông là của VN, là của Tổ Quồc VN. Ngươi dân VN, trí thức, sinh viên, nhà báo, công nhân, nông dân dù gian khổ trước trấn áp chìm nổi của của công an CSVN, cũng cố gắng biểu tình chống TC xâm lăng.

Trong khi đó CS Hà nội là nhà cầm quyền đương cuộc, quân đội của VNCS tự xưng là quân đội nhân dân lẽ ra phải bảo quốc an dân, lại gần như bất động. Quân đội CSVN, hải, lục, không quân, cảnh sát biển, biên phòng CS Hà nội đều có. Tàu xe, máy bay, súng nhỏ, súng lớn, bom, thủy lội, hoả tiễn CS Hà nội đều có. Tướng tá “ quân hàm”, huy chương đỏ ngực. Một năm người dân đóng quá nhiều thuế thuế để trả. Thề mà chưa ai thấy quân đội ra biển bảo vệ ngư dân, gìn giữ bờ cõi.

Còn trên đất liền thì CS Hà nội gần đây ngầm cho biểu tình để dân bớt chuởi chế độ vài ba lần rồi thôi vì TC ra lịnh cho CS Hà nội “định hướng dư luận”. Người dân Việt trong nước đi biểu tình chống TC, dự định trước toà Đại sứ của TC ở Hà nội và Toàn Tổng Lãnh sự ở Saigon, nhưng công an trấn áp không đến gần được, dù là biểu tình hềt sức ôn hoà.

Ở Saigon biểu tình hai lần đầu dước mấy ngàn người, CS Hà nội sơ quá, sợ TC bắt tội CS Hà nội ngầm xúi dân khiêu khích nên cho công an lũng đoạn, trán áp các cuộc biều tình sau không làm được. Còn ở Hà nội được bảy lần. Hai lần sau công an trán áp mạnh sau khi Thứ Trưởng Hồ xuấn Sơn của CS Hà nội đại diện Đảng Nhà Nước CSVN đi Bắc Kinh triều kiến trở về.

Đại diện CS Hà nội và CS Bắc Kinh ký thông cáo chung với hai điểm chánh. Hai Đảng Nhà Nước sẽ giải quyết vấn đề Biển Đông song phương trên tinh thần 16 chữ vàng và 4 tốt mà hai đảng đã ký. Hai CS Hà nội sẽ “định hướng dư luận”. Và thực hiện cam kết với CS Bắc Kinh, CS Hà nội cho công an, mật vụ, cảnh sát, dân phòng, đánh đập, bắt bớ, triệt hạ những ngưởi yêu nước biểu tình, giải tán nhanh, bạo cuộc biều tình trong 15 phút. Rõ rệt, CS Hà nội đã thần phục CS Bắc Kinh, đã dùng quyền lực, tuyên truyền và ngoại giao xuyên tạc ý nghĩa các cuộc biểu tình chống TC của người dânViệt. CS Hà nội đã lũng đoạn tinh thần đoàn kết chống ngoại xâm của người dân Việt bằng nhiều xảo thuật bá đạo, đổ thừa người dân bày tỏ lòng yêu nước, chống xâm lăng là phản động, là bị phản động xúi giục.

Rõ rệt CS Hà nội đã bất lực, hèn nhát, không bảo vệ được chủ quyền đất nước, bờ cõi VN trước hành động xâm lược của quân Tàu Cộng. CS Hà nội coi tình đồng chí CS, quyền lợi của CS cao hơn quyền lợi quốc gia dân tộc VN.

Như thế rõ rệt CS Hà nội đã phản bội nhân dân, phản bội Tổ Quốc VN. Đất nước là của nhân dân – chớ không phải của đảng phái nào, nhà cầm quyền nào. Tổ Quốc là giá trị thiêng liêng không ai có quyền đem ra thương lượng.Hoàng sa, Trường Sa là của VN, một tấc đất người dân Việt cũng không nhường, không cho ai nhường cả. CS Hà nội không có tư cách gì, thẩm quyền nào, không thể nhơn danh tình đông chí, nghĩa quan thầy, 16 chữ vàng thau, 4 tốt xấu gì đó để âm mưu và thông đồng , song phương giải quyết vấn đề chủ quyến, lãnh thổ, lãnh hải của người dân Việt.

Rõ rệt CS Hà nội đã không đủ sức, đã mất tư cách cầm quyền, đã quá mất lòng dân, đã mang tội ngầm bắt tay với quân xâm lược. Đã đến lúc CS Hà nội phải rút lui để một chánh quyền vì dân, do dân, của dân đứng lên phát huy nội lực dân tộc cứu nước cứu dân, bảo vệ chủ quyền đất nước, phát triển tương quan ngoại giao với thế giới tư do để dưa VN thoát khỏi nạn độc tài làm quốc gia ì ạch cả nửa thế kỷ rồi. Khiến TC coi thường VN, đã lấn chiếm biển đảo VN như chỗ không người.

Tình yêu Tổ quốc là thiêng liêng và bảo vệ đất nước là bổn phận bẩm sinh của mỗi một người dân. Không có, vua quan nào, hay lãnh tụ tinh thần nào, đảng phái nào, nhà cầm quyền nào, thế lực nào có quyển, có thể ngăn cản người dân yêu nước, giữ nước được

CS Hà nội nếu khôn khéo, thức thời thì tạo điều kiện chuyển hoá, thực hiện tiến trình dân chủ một cách ôn hoà, hoạ may còn giữ được một chỗ đứng nào đó trong chánh quyền mới. Bằng không sớm muộn gì người dân củng phải làm, vứt bỏ cái chế độ độc tài đảng trị toàn diện của CS Hà nội đi. Lúc đó CS ăn năn cũng không kịp./.

Vi Anh

BÓNG TỐI NÀO ?

Written By Trầm Hương Thơ on Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013 | 11:41



Những ngày này ở Việt Nam hầu như ai mở lời chào hỏi hay bắt đầu làm việc gì cũng thường rào đón trước bằng câu “Đầu xuân năm mới …” rồi mới nói điều gì gì đó. Riết rồi thành quen! Nhiều người nhất là những người trẻ tuổi hơn, những người nghèo hơn hoặc nhân viên cấp dưới còn có thêm điệu bộ khúm núm, lưng khom khom, mặt mũi cười giả lả, hai tay ra cái điệu hơi xoắn quẩy một tí, xuýt xuýt xoa xoa vào nhau để luôn sẵn sàng bắt tay người khác mà họ đã có chủ ý muốn bắt từ trước. Để ý điều này từ bé, thấy quá nhiều người làm vậy, ban đầu thấy hình dáng điệu bộ ấy chẳng có gì là đẹp đẽ, trông còn hèn hèn đúng kiểu xu nịnh, nghĩ đây đúng là dáng dấp tiểu nhân, cứ y như trông phim, kịch Tàu và cả Việt, khi miêu tả kẻ tiểu nhân nịnh bợ thì cái điệu bộ, dáng vẻ ấy đã trở thành hình mẫu mang tính ước lệ.

Ấy vậy mà phần lớn nhiều người lại cho rằng cái điệu ấy, cái cung cách ấy là thể hiện sự khiêm tốn, khiêm nhường, lễ độ, lễ phép của con người. Vì thế mà thi nhau học, dạy, và bắt chước ngay từ khi còn nhỏ.

Đã bao giờ người ta đặt câu hỏi nếu đó là điều hay thì tại sao chỉ có một bên trong giao tế phải làm vậy. Có phải tận sâu trong lòng người dân Việt Nam từ xa xưa đến giờ vốn chẳng thích sự bình đẳng hay thậm chí cũng không có khái niệm bình đẳng. Nên đôi khi đây đó, lúc này lúc kia xuất hiện vài ông vua tỏ ý bình đẳng cũng được ghi lại trong sử sách nhưng rồi cũng thành thiểu số tuyệt đối khi mà phần lớn quan lại và cả dân thường đều không truyền bá thực hành được cái phong cách và lề lối tốt đẹp ấy. Phải chăng vì họ không thích và cũng chẳng mấy quan tâm?

Cái cung cách khúm núm xun xoe ấy làm sao mà tốt đẹp cho được khi nó mang đến một cảm giác thấp kém hơn, mất cân xứng hơn khi người ta nhìn vào, và bản thân người có điệu bộ ấy cũng mất đi phần nào sự tự tin và độc lập của mình! Nếu quan sát hành vi và thái độ giao tiếp của người phương Tây sẽ thấy một điều hoàn toàn khác. Họ vẫn có sự khiêm nhường, lễ độ, lễ phép thậm chí là quá lịch sự là đằng khác, nhưng tuyệt nhiên cực kỳ hiếm khi người ta có thái độ tự hạ thấp mình một cách xấu xí và thô thiển như người Việt khi giao tiếp như vậy.

Điều đặc biệt là thái độ giao tiếp đáng xấu hổ này của người Việt lại phổ biến nhất và thể hiện đặc sắc nhất trong giới quan chức cán bộ với nhau, và trong tầng lớp … nông dân ở nông thôn !? Nhưng không có gì phải ngạc nhiên khi nhớ lại lịch sử dân tộc Việt Nam sau năm 1954, khi đoàn quân cách mạng từ chiến khu Việt Bắc tràn về thủ đô Hà Nội và công cuộc Cải cách Ruộng đất lên tới đỉnh điểm thành công chói lọi thì ôi thôi tất cả những điều tốt đẹp nhỏ nhoi trong văn hóa ứng xử của người Việt từ những dấu ấn phong kiến cho đến những nét ứng xử mới du nhập từ phương Tây (chủ yếu là từ nước Pháp thực dân) đều tan biến hoàn toàn. Thay vào đó là những điều xấu xí, và thậm chí là xấu xa trong tính cách vốn đã thâm căn cố đế mọc rễ trong lòng người Việt được lên ngôi tôn vinh chói lọi. Những tính cách này 99% là cách sống của người nông dân tùy tiện và nông cạn chỉ thấy cái lợi trước mắt, + lề lối ấu trĩ ngạo mạn của tầng lớp được coi là khoa bảng của giới Nho học mà chủ yếu là hủ Nho. Nói theo Phan Chu Trinh là “cái phần người dốt nát trong nước thì chiếm 80 phần trong một trăm. Còn cái gọi là người thượng lưu, trung lưu chẳng qua là bọn bát cổ (khoa bảng) đã chiếm hai phần ba. Thật, chẳng biết cái Nho học là gì mà cũng nhắm mắt lại chê càn cái văn minh (vu cho) là mọi rợ.”

Thảo nào Phan Chu Trinh thất bại !

Tôi rùng mình khi đọc những dòng chữ này trong bài Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa của ông luận về thế nào là quân chủ, thế nào là dân chủ mà ông đã đọc ở Hội Thanh niên Sài gòn cuối năm 1925 sau khi ông từ Pháp trở về Việt nam và khởi xướng, chủ trương một cuộc cách mạng dân chủ bất bạo động bằng cách nâng cao dân trí và xây dựng một thể chế dân chủ Pháp trị. Cảm giác rùng mình đó đến từ niềm thích thú của một người đã lâu nay vẫn thấy quá nhiều và quá rõ những nét tính cách xấu xí và xấu xa của người Việt nhưng vì tài hèn sức mọn, tuổi đời ít, trải nghiệm sống đơn điệu nên cũng hèn mà không nói ra nổi. Nay được thấy một người đã dám nói ra điều ấy trước hàng ngàn người, nói một cách công khai mạnh mẽ đầy tự tin, thì trong lòng cảm thấy thú vị và đồng cảm vô cùng !

Nếu Phan Chu Trinh sống lại vào thời này ông sẽ thất bại một lần nữa !

Tại sao ư ? Câu trả lời thật đơn giản. Vì người Việt Nam vẫn vậy. Thậm chí mức độ tồi tệ còn nặng nề hơn gấp bội. Cái bản tính vừa tự ti về sự dốt nát của mình nhưng lại cũng rất sỹ diện, kiêu ngạo, nhất định, dứt khoát không bao giờ thừa nhận là mình dốt, mình kèm. Đây là hai mặt tất yếu trong tính cách con người dốt nát vậy. Cái này bổ sung cho cái nọ. Cái nọ nuôi dưỡng cho cái này. Tử huyệt của người Việt có lẽ đã được đào khoét qua hàng mấy ngàn năm văn hiến (thì ít) và hủ hóa (thì nhiều) dưới sự cai trị của hàng trăm triều đại với hàng chục dòng họ gia tộc vương quyền. Thời đại phong kiến dài dằng dặc ấy đã để lại cho chúng ta niềm tự hào thì ít, đã thế lại còn nhỏ. Nhưng cái tính cách xấu của người Việt thì lại ngày càng lớn như cái hố khổng lồ, đen ngòm mà ai cũng được khuyến khích cứ nhắm mắt mà nhảy tõm vào đó để nghe các âm vang nịnh bợ thấp kém nhất, đáng hổ thẹn nhất cứ lặp lại mãi, rằng họ là “anh hùng của thế kỷ, lương tâm của thời đại”.

Trong lịch sử, sự thẳng thắn, ngay thẳng, chính trực, khẳng khái của người Việt đều dẫn đến hậu quả thê thảm kinh hoàng, là tuyệt đại đa số hậu quả của những người chọn phong cách sống và làm việc này. Thử điểm lại sử sách có mấy trường hợp mà người sống ngay thẳng chính trực lại được vinh danh và ưu đãi bởi giới vua quan, và thậm chí ngay trong dân chúng thì tình hình cũng chẳng hề tươi sáng hơn cho những người sống ngay thẳng. Đến nỗi có cả một thành ngữ rất phổ biến và có lẽ cũng là thành ngữ nổi tiếng nhất, tiêu biểu nhất cho tính cách người Việt, là “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.” Thành ngữ này không chỉ đơn thuần là đúc kết một lề, thói nào đó của con người mà nó được thành lập theo cú pháp là một câu cầu khiến, dạy bảo xúi bẩy người ta làm theo.

Thật đáng sợ, lẽ ra phải là nói thật, nói đúng, nói một cách nhân từ vì lý do nhân đạo ..v..v.. thì lại thành “nói cho vừa lòng”. Vậy vừa lòng là thế nào? Là lấy lòng, được lòng người nghe. Mà người nghe thì thích nghe cái gì? Người nghe thì thích nghe bất kỳ điều gì, trừ cái điều chê trách họ, rằng họ đã không đúng, đã sai, đã lầm, đã ác độc, đã tham lam, đã ngu dại ..v..v..

Đó cũng chính là con đường làm cách mạng của đảng Cộng sản Việt nam. Nói những điều mà tuyệt đại đa số người dân Việt nam thích nghe, bằng những bài, những chiêu trò tuyên truyền với tần suất phát hành khủng bố áp đảo tuyệt đối. Biến tuyên truyền thành một cuộc chiến thật sự đánh vào tâm hồn, tình cảm và ý thức của con người khiến con người ta mê muội, lẫn lộn sai thành đúng, cái cần tránh thì cứ đâm đầu vào, cái không được làm thành cái nên làm, phải làm với phương châm binh pháp Tôn Tử bất chấp tất cả để đạt hiệu quả. Cộng sản đã lấp đầy cái hố tự ti, trống rỗng của người dân Việt bằng những niềm tự hào (nguồn gốc bần cố nông) và giấc mơ quái đản và hão huyền (làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu). Trong niềm tự hào và giấc mơ đó từng góc tối nhất trong tâm hồn và văn hóa người Việt đều được đem ra khoe khoang, thi thố và tôn vinh với những chiến lợi phẩm cụ thể để đổi đời gọi là “chia quả thực”. Nỗi ghê sợ và tởm lợm của tên gọi này quả là tương xứng với cách thức mà những người cộng sản và cả những người đi theo họ đã làm để có được “quả thực” mà chia.

Lẽ ra Phan Chu Trinh phải nói rằng người dân Việt Nam cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng giỏi. Nếu cuộc đời, xã hội hay đất nước có điều gì đó còn đau khổ không vừa ý thì tất cả đều là do bị áp bức, bị bóc lột, bị cướp mà ra. Cách tiếp cận của cộng sản thật đắc địa. Họ đã thành công vì đánh trúng vào tâm lý ưa xu nịnh, đố kỵ, thù ghét sự thẳng thắn, ưa ăn vạ, ưa đổ vạ cho người khác của người Việt. Trên mảnh đất tối tăm ấy của tâm hồn người Việt, chủ nghĩa cộng sản đã sinh sôi nảy nở tốt tươi biết bao với những thành tựu vu khống, giết chóc, phá phách, tàn hại chất cao như núi. Hậu quả kinh khủng nhất của cộng sản gây ra cho Việt nam là làm cho người dân Việt nam vong bản, mất gốc vì đi theo và tôn thờ một thứ chủ nghĩa ngoại lai, một tư tưởng bạo lực chuyên chính và thù địch. Những nét tính cách đơn sơ, hồn nhiên, đáng mến ít ỏi của người Việt đâu cả rồi?

Ngay cả những người dân chủ đã từng đi theo cộng sản đến giờ vẫn tiếp tục cho rằng cộng sản có cái sai, có cái đúng. Nhiều người cho rằng cộng sản gần như hoàn toàn sai lầm, độc ác tuyệt đối. Ấy thế, nhưng cái phần của họ tham gia trong ấy vẫn là đúng, vẫn là đáng kể đến, vẫn có cái gì đó có thể biện minh. Danh hiệu vẫn khoe ra, thành tích vẫn tự hào. Đến giờ ở Việt Nam có lẽ chỉ có một mình ông nhạc sỹ già Tô Hải dám tự nhận là mình đã sai toàn diện, đã hèn toàn cục. Cả sự nghiệp của mình ông cũng vứt bỏ, thậm chí là tự phỉ nhổ, vì tuy (phần lớn) nó đã được tạo nên bằng những cảm xúc có thật trong lòng nhưng là trên nền tảng bị kẻ khác dối đảo, và rồi mình cũng đi lừa dối người khác. Nên suy cho cùng đấy cũng chỉ là đống rác rưởi. Tổng kết sự nghiệp cả cuộc đời mình ông chỉ thừa nhận một tác phẩm duy nhất là nhạc phẩm Nụ cười Sơn cước.

Tôi hiểu cảm xúc và suy nghĩ của ông khi vứt bỏ tất cả những thứ còn lại. Sự can đảm của ông là phi thường và tôi nghiêng mình trước điều ấy. Bởi vì những thứ mà ông vứt bỏ cũng là công sức lao động, là mồ hôi tim óc của ông cố gắng để phục tùng đảng cộng sản, chiều theo bóng tối hèn nhát, dối trá và những ham hố đáng khinh trong tâm hồn mình. Cuối đời, ông đã may mắn nhận được ơn cứu độ là sự giác ngộ và can đảm vứt bỏ chính mình, không phải là tất cả bản thân mà là tất cả những gì đáng hổ thẹn của bản thân để ngẩng cao đầu trong miền mênh mông vô cùng của niềm vui sướng được giải thoát khỏi những xiềng xích nặng nề, xấu xa mà chính mình đã tạo nên cho cuộc đời mình. Điều này chỉ có ông và những người như ông mới hiểu hết được mà thôi.

Suy cho cùng, ta cũng nên cá cược chút ít với cuộc đời!

Tôi rất thích hai câu châm ngôn “Trên đời, chẳng có gì như ý mình (hoàn toàn)” và “Nếu cái gì mình cũng đúng mà đời mình lại như thế này àh !?”. Ngay trong gia đình và bạn bè của tôi cũng có nhiều người có nỗi niềm đau khổ, buồn bã. Nhưng mặc kệ tất cả, đau khổ cứ đau khổ, u sầu cứ u sầu, đố có khi nào thấy họ có thái độ ăn năn về những tội lỗi của họ. Một thái độ nhẹ nhàng, hài hước thừa nhận mình đã sai lầm chuyện gì đó nhỏ nhoi còn là điều hiếm hoi đến lạ lùng. Một chút ngượng ngùng, xấu hổ vì mình đã sai trái ngớ ngẩn điều gì đó cũng hiếm khi được thể hiện. Ai đó nói rằng người Việt nam là như vậy. Tất nhiên đó là một cách nói và họ có quyền nói như thế, tôi không hề phản đối thậm chí còn bảo vệ họ nói ra điều đó theo cách nói vo như thế. Không sao cả nếu bạn không phải vậy, đúng không ?! Nếu chọn cách nói chính xác thì người Việt nam vốn là một dân nhược tiểu, có những tính tốt và nhiều tính xấu. Cái tốt thì cũng chẳng tốt hơn ai. Cái hay thì cũng chẳng hay hơn ai. Nhưng cái xấu thì lại xấu hơn người. Xấu đặc sắc, xấu tràn lan, xấu thâm căn cố đế. Bởi vì nếu cái gì người Việt cũng tốt, cũng hay, cũng đẹp mà nước Việt nam mình lại thế này àh ?!

Đấy, lại dựng ngược lên rồi!

Tôi biết nhiều độc giả đang dựng ngược lên vì khó chịu thậm chí là nổi giận. Không sao! Mục đích của tôi là chọc giận người đọc vì đối với tôi biết nổi giận cũng là một phẩm giá, một tính cách tốt đẹp của con người, miễn là nổi giận đúng việc, đúng nguyên cớ!

Gần đây có bài viết của ông giáo sư nổi tiếng Joel Brinkley của trường đại học danh tiếng hàng đầu thế giới Stanford-Hoa Kỳ, tạo nên phong trào ném đá lớn chưa từng thấy của người Việt trên khắp thế giới. Báo chí trong nước đăng tin rầm rộ vụ ném đá tơi tả này. Tôi, LTCN, đến thời điểm viết bài này, hoàn toàn ủng hộ, cùng phe, đồng tình ..v..v.. (thích dùng từ nào cũng được) với ông giáo sư Joel Brinkley.

- Trước hết là tôi hoàn toàn ủng hộ phần ông ta nói về thói ẩm thực đặc trưng của người Việt là quá thích ăn thịt và ăn tất cả các loại thịt có thể ăn được, với quan điểm rõ ràng đây là một thói ăn uống xấu, không đẹp, man rợ, ô nhiễm môi trường, độc hại, trưởng giả và ngu ngốc (ví dụ như ăn mà không biết lợi ích thế nào, ăn vì sỹ diện, ăn để khoe lắm tiền, ăn để thể hiện khác người, hơn người …)

- Thứ hai tôi hoàn toàn ủng hộ và khâm phục sự thông minh và can đảm của ông giáo sư Brinkley khi ông thừa nhận sai lầm và tuyên bố sửa chữa phần nội dung liên hệ thói quen ăn uống với tính hung hăng của người Việt.

- Thứ ba, ngay cả khi ông Joel Brinkley không thừa nhận sai lầm và cũng không sửa chữa gì thì tôi vẫn ủng hộ và thậm chí là bảo vệ quyền của ông ta được nói ra điều mà ông ta suy nghĩ một cách công khai như vậy. Vì suy cho cùng đây không phải là một hành động vu khống, mà chính xác nó là một nhận định, một quan điểm cá nhân mà thôi. Vấn đề trở nên phức tạp vì ông ta là người nổi tiếng và tờ báo cũng nổi tiếng, nhưng không vì thế mà quên đi rằng cá nhân ông ta hoàn toàn có quyền nói lên quan điểm của riêng mình cách thoải mái và được an toàn. (Báo Tuổi trẻ, Chủ nhật 17.02.2013, page 19 bài Giáo sư Mỹ xin lỗi về bài viết sai sót về Việt Nam)

Đọc những bài, những còm (comment) ném đá ông này thấy buồn cười quá! Ô hay, mình không thế thì thôi chứ. Nào ai có quyền bắt một người phải ngồi đếm có mấy người trong bao nhiêu người đã làm gì như thế nào thì mới được phép có phát biểu quan điểm, suy nghĩ. Chính vì cách suy nghĩ chỉ thấy cái lợi trước mắt, không có và cố ý không chịu tư duy logic thống nhất nên người Việt nam luôn rơi vào những cái bẫy do mình tự tạo ra.

Thế giới chống mắt lên mà nhìn người Việt nam nhé ! Dù nghèo, dù đói, dù xấu, dù ô nhiễm, dù oan ức ngút trời nhưng đố ai dám động vào những tính xấu của người Việt. Người nước ngoài nói xấu bị ném đá tơi bời đã rõ, người Việt mà nêu lên cái xấu của người Việt thì còn được nếm đòn kinh hồn táng đởm hơn. Vì cùng là người Việt, là đồng bào, đồng hương nên sẽ có thêm cái tiết mục “phản động, phản bội dân tộc, Việt gian, sính ngoại, ngửi đít tây ..v..v..” Tóm lại là một vụ ném đá tập thể tưng bừng. Bất chấp tất cả, ờ đấy, tao nợ như chúa Chổm, con dân tao nghèo mạt hạng, đến giờ bữa cơm chỉ mong được ăn bát cơm trắng có thêm miếng thịt mỡ bằng ngón tay út, thanh niên nước tao nhìn đểu cũng đủ đâm nhau chết tươi, chồng giận vợ sẵn sàng đổ xăng thiêu con cháy đùng đùng như pháo hoa ngày Tết, tham nhũng thành quốc nạn mà không một ai chịu trách nhiệm hết, nhưng tao vẫn luôn luôn đúng bởi vì tao có súng, nhớ chưa?!

Quả thật là hoàn toàn nhờ vào bạo lực và dối trá mà đảng cộng sản độc tài cai trị dân Việt nam cho đến tận bây giờ. Nhưng cũng phải đau đớn mà thừa nhận rằng bạo lực và dối trá của cộng sản đã được người Việt nam tiếp nhận một cách không thể nói là không hào hứng vì nó đánh trúng và làm đầy những bóng tối trống rỗng trong tâm hồn người Việt. Trong đó, nơi tối nhất chính là tính cách tuy bé mà lại ưa xu nịnh và thích được xu nịnh của người Việt, thể hiện ở sự căm thù tính thẳng thắn trong khi lại rất công khai trắng trợn thể hiện tính hung hăng côn đồ tàn ác.

Quả vậy, người Việt nam từ cổ chí kim luôn nổi tiếng ở những cơ hội hòa bình, ngưng bắn, đình chiến bị đánh mất, bị vứt bỏ, bị nhổ toẹt và ở những cuộc chiến tranh thắng lợi, hơn là ở những công cuộc kiến tạo hòa bình và hòa giải. Dù nói thế nào đi chăng nữa thì số lượng các cuộc chiến tranh và thời gian chiến tranh ở Việt nam là quá nhiều so với chiều dài lịch sử, dân số và tầm vóc lãnh thổ. Và đặc biệt là người Việt lại luôn tự hào vì chiến tranh, dù đó là chiến tranh gì. Đến nỗi lịch sử Việt nam bị đánh đồng luôn với lịch sử các cuộc chiến tranh Việt nam. Đến nỗi những thành tựu văn hóa, nghệ thuật, khoa học phục vụ nhân sinh còn lại với thời gian của người Việt thì phải nghĩ mãi mới ra được.

Vậy thì có gì phải dựng ngược lên với ông giáo sư Joel Brinkley này!? Chính thái độ đó của người Việt chúng ta biết đâu lại mang đến niềm vui thầm kín nào đó cho ông ta. Vì rõ ràng chúng ta đang thể hiện một sự hung hăng ghê ghớm đối với một sự kiện chả có gì to tát. Chỉ tổ góp phần chứng minh rằng ông ta, dù sao và ở một mức độ nào đấy, đã đúng mà thôi.

Xin quý độc giả hãy search trên Internet “ăn, mua, bán, thịt thú rừng, Việt nam” ngay bây giờ. Tôi tin chắc quý vị sẽ hạ hỏa và bớt đi ý định ném đá ông Joel và tôi vì bài viết này.

Ôi, người Việt nam! Ôi, Chùa Hương! Ôi, thịt!

Hà Nội, 20.02.2013 tức 11 tháng Giêng năm Quý Tỵ

Lê Thị Công Nhân

chó nhà Thị trưởng

Written By Trầm Hương Thơ on Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013 | 01:02

Vũ Tích Khuê dịch



Tiễn năm cũ, đón năm mới, thành phố tổ chức đêm liên hoan văn nghệ ở hội trường lớn.

Đêm biểu diễn không bán vé mà phân phối cho các cơ quan đơn vị . Tám hàng ghế trên dành cho các vị lãnh đạo thành phố và lãnh đạo chủ chốt của các sở ban ngành.

Online

 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2011. CHIM ÉN MÙA XUÂN - All Rights Reserved
Template Created by Creating Website Published by Mas Template
Proudly powered by Blogger